Bộ đề chuẩn bị kì thi trung học phổ thông Quốc Gia môn Văn 2015 số 31

Thứ sáu , 10/04/2015, 20:41 GMT+7
     
Theo quan niệm của người phương Đông, âm - dương là hai mặt tồn tại tất yếu của các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ, thiên nhiên cũng như trong cuộc sống nhân sinh. Trong cặp sơn - thuỷ thì son thuộc về dương, thuỷ thuộc về âm; trong cặp nam - nữ thì nam là dương, nữ là âm. Hẳn vì thế mà ở không ít tác phẩm viết về sông nước, hình tượng con sông không khỏi gợi người đọc liên tưởng tới người phụ nữ.

Câu 1.

Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

MỘT NIỀM VUI MỘT NỖIBUỒN

Một niềm vui một nỗi buồn

Nếu phải giữ một mình suốt đời

Bạn có thể chết vì nó

Một điều hiểu một ý nghĩ

Nếu phải giữ một mình suốt đòi

Có thể làm bạn điên

Cái gánh nặng

Nhìn - nghĩ-yêu thương

Mối hi vọng

Mỗi tâm hồn cần có tâm hồn khác.

(Tuyển tập thơ Nguyễn Đình Thi, NXB Văn học, 1994, tr. 175)

1.   Thể thơ của bài thơ?

2.   Chỉ ra sự tương đồng về nội dung và cấu trúc của hai khổ thơ đầu. Ý nghĩa của sự tương đồng?

3.   Có thể xem khổ thứ ba và khổ thứ tư như “kết luận 1” và “kết luận 2” của bài thơ được không? Vì sao?

4.   Anh (chị) cảm nhận như thế nào về hình thức giản dị và sáng sủa của bài thơ?

5.   Hãy thể hiện sự đồng cảm của mình đối với những điều tác giả muốn chia sẻ.

Câu 2.

Nhiều thảm hoạ có thể được ngăn chặn.

Anh (chị) hãy viết một bài văn (khoảng 600 từ) trên cơ sở câu gợi mở trên.

Câu 3.

Phải chăng trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông?, con sông Hương hiện ra với vẻ đẹp đầy nữ tính dưới con mắt của Hoàng Phủ Ngọc Tường?

Hướng dẫn làm bài

Câu 1.

1.  Bài thơ được viết theo hình thức tự do (dùng thể thơ tự do): câu ngắn dài không cố định; không vần; việc chia khổ tuỳ theo nội dung cảm xúc, không bắt buộc phải cân nhau về số câu thơ ở mỗi khổ.

2.  Hai khổ thơ đầu có nội dung và cấu trúc khá giống nhau, về nội dung, mỗi khổ đều nêu các giả định về khả năng bạn có thể chết hoặc điên vì phải giữ một mình suốt đời một niềm vui, một nỗi buồn hay một điều hiểu, một ý nghĩ, về cấu trúc, mỗi khổ đều có 3 câu trong đó câu thứ hai của hai khổ hoàn toàn giống nhau; hai khổ đều sử dụng mô hình cú pháp: nếu... có thể... Sự tương đồng này gây ám ảnh lớn về tính tiêu cực của việc ta giữ một mình suốt đời những vui, buồn, những điều hiểu và ý nghĩ.

3.  Hoàn toàn có thể xem hai khổ sau của bài thơ như hai kết luận hoặc hai hệ luận rút ra từ các giả định “đáng sợ” nêu trên. Sở dĩ có thể nói như vậy là vì giữa hai khổ sau và hai khổ đầu có mối liên hệ rất logic. "Kết luận 1” có nội dung: hoá ra, nhìn - nghĩ- yêu thương là một gánh nặng đối với mỗi một con người. "Kết luận 2” có nội dung: để không chết hay bị điên, ta cần phải biết chia sẻ với mọi người, mỗi tâm hồn cần có tâm hồn khác.

4.  Bài thơ có hình thức thật giản dị, sáng sủa, như một lời trò chuyện tâm tình giữa những người bạn. Khi đang cần chia sẻ nỗi lòng, lẽ nào ta cứ phải khoa trương, nói những lời bóng bẩy, rườm rà? Hơn nữa, tính chất châm ngôn của bài thơ đòi hỏi nó phải tìm đến kiểu biểu đạt kiệm lời nhưng rõ ý này.

5.  Sống ở trên đời, ai cũng cần phải có bạn, có người đồng cảm. Người ta thường nói “Niềm vui được chia sẻ, niềm vui nhân đôi; nỗi buồn được chia sẻ, nỗi buồn vơi một nửa”. Ý của bài thơ không hoàn toàn mới nhưng nó đã được nói ra bằng những trải nghiệm sâu sắc của bản thân nhà thơ - nhân vật trữ tình - vì vậy, bài thơ vẫn có sức lay động mạnh. Những động từ “mạnh” như chết, điên có màu sắc chua chát, chứa đầy ưu tư. Thêm nữa, khi nhà thơ gieo chữ “hi vọng", ta hiểu đằng sau đó từng có nỗi thất vọng. Quả thực, việc thông hiểu nhau giữa người với người đâu phải là chuyện dễ dàng. Mỗi tâm hồn cần có tâm hồn khác - chuyện thật tự nhiên mà sao ta cứ phải hi vọng, cứ phải khắc khoải mong chờ?

Câu 2.

Bài văn không nhất thiết phải dùng câu Nhiều thảm hoạ có thể được ngăn chặn làm câu mở đầu, nhưng cần được triển khai dựa trên chiều hướng suy luận logic hàm chứa trong đó. Câu đã nêu dường như yêu cầu ta phải đặt tiếp một chữ nếu. Để có ý viết bài, phải suy nghĩ tập trung về chữ nếu “giấu mặt” này.

Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:

-   Cuộc sống con người hiện đang chịu rất nhiều thử thách. Những mối ẩn hoạ có ở khắp mọi nơi và có thể gây tai ương bất cứ lúc nào. Trên các phương tiện truyền thông, từ thảm hoạ được dùng dày đặc, thể hiện sự lo âu của con người về những nguy cơ đe doạ cuộc sống của loài người.

-   Có nhiều loại thảm hoạ: thảm hoạ thiên nhiên; thảm hoạ môi sinh, môi trường; thảm hoạ dịch bệnh; thảm hoạ chiến tranh; thảm hoạ chính trị; thảm hoạ kinh tế; thảm hoạ văn hoá... Có những thảm hoạ “từ trên trời rơi xuống”, dường như không kiểm soát được nhưng có nhiều thảm hoạ do chính con người gây nên. Loại thảm hoạ do chính con người gây nên thì hoàn toàn có thể được con người ngăn chặn, triệt tiêu, hoá giải.

-   Nhiều thảm hoạ có thể được ngăn chặn nếu con người nhận thức được đầy đủ về cái gốc của chúng: con người đã ứng xử với thiên nhiên như một đối tượng phải chiếm lĩnh và bóc lột; con người đã quay lưng với những lời cảnh báo hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp; con người đã chạy theo những chỉ số tăng trưởng nóng của nền kinh tế, bất chấp hậu quả tệ hại; con người chưa tìm được cách chung sống hoà bình đối với nhau...

-   Nhiều thảm hoạ có thể được ngăn chặn nếu con người sống có trách nhiệm hơn với chính bản thân, với cộng đồng (cộng đồng dân tộc, cộng đồng quốc tế), với sự tồn vong của cả trái đất - ngôi nhà chung của tất cả chúng ta.

-   Nhiều thảm hoạ có thể được ngăn chặn nếu chúng ta không chỉ nói suông mà phải bắt tay xây dựng những chương trình hành động cụ thể, trước mọi loại ẩn hoạ. Cần có sự thống nhất hành động trước những thông điệp mang tính toàn cầu.

-   Thảm hoạ là tai ương lớn, có khả năng phá huỷ ghê gớm đối với cuộc sống chung của chúng ta. Tuy nhiên, việc ngăn chặn chúng có thể và cần phải được bắt đầu từ những việc nhỏ, ai cũng có thể làm được.

(Lưu ý: Khi triển khai ý, người viết cần nêu được các ví dụ, dẫn chứng cụ thể.)

Câu 3.

Câu hỏi đòi hỏi người viết trả lời theo cách riêng của mình, nghĩa là có thể tán thành hay không tán thành vấn đề được đặt ra. Chủ kiến của người viết phải được thể hiện bằng cảm nhận về nội dung và hình thức của văn bản và bằng cách lập luận có sức thuyết phục.

Bài viết có thể triển khai các ý chính sau:

-   Theo quan niệm của người phương Đông, âm - dương là hai mặt tồn tại tất yếu của các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ, thiên nhiên cũng như trong cuộc sống nhân sinh. Trong cặp sơn - thuỷ thì son thuộc về dương, thuỷ thuộc về âm; trong cặp nam - nữ thì nam là dương, nữ là âm. Hẳn vì thế mà ở không ít tác phẩm viết về sông nước, hình tượng con sông không khỏi gợi người đọc liên tưởng tới người phụ nữ. Sông Đà trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân là một minh chứng. Cái vẻ dữ dằn, man dại như một thứ kẻ thù không đội trời chung với con người của sông Đà, trong mắt Nguyễn Tuân, chính là cái đẹp. Ấy là cái đẹp của một thiếu phụ nổi máu tam bành, nổi cơn thịnh nộ. Lúc hiểm ác là vậy, thì khi dịu dàng, làm sao dòng sông ấy không là một mĩ nhân, một "tình nhân chưa quen biết"? Hai thái cực của sông Đà đều là kết quả của một cái nhìn; và dưới cái nhìn ấy, sông Đà hiện lên với mọi biểu hiện của tính nữ.

Vậy là trước mặt Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có một lối mòn được khai mở bởi một nhà văn tầm cỡ. Trong văn chương, đấy là một thách đố ghê gớm: thách đố vượt ra những cái bóng quá lớn, có nguy cơ phủ trùm lên, triệt tiêu cả cảm hứng sáng tạo. Nhưng có lẽ Hoàng Phủ Ngọc Tường đã vượt qua rào cản tâm lí ấy bằng chính bản lĩnh của mình. Viết về một dòng sông đã là đề tài quá quen thuộc của thơ ca, nhạc, hoạ; ông phải huy động vốn văn hoá thâm hậu và sự liên tưởng phóng túng, tài hoa. Cũng nhìn thấy ở con sông những tính cách của người phụ nữ, nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem đến cho người đọc những cảm nhận riêng về vẻ đẹp của dòng Hương.

-   Sông Hương khởi nguồn từ đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ. Nhưng ngay giữa rừng già, dòng sông này không chỉ cuộn xoáy như cơn lốc qua những ghềnh thác, qua những đáy vực bí ẩn, mà còn có lúc tỏ ra “dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Thật khác xa với vẻ hung bạo, dữ dằn, đáng sợ của dòng sông Đà trong tuỳ bút Nguyễn Tuân. Hẳn vì thế mà Hoàng Phủ Ngọc Tường ví sông Hương “đã sống một nửa cuộc đòi của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Quả rất đẹp, nhưng là cái đẹp toát lên từ toàn bộ bản năng tự nhiên, vốn có, chưa chịu bó mình theo một khuôn phép nào. Tuy nhiên, dòng sông đầy nữ tính ấy dù ngang tàng, phóng túng đến đâu cũng không khước từ sự “giáo hoá” của rừng già nhằm chế ngự sức mạnh bản năng của nó, khiến nó trở nên “dịu dàng và trí tuệ” - những vẻ đẹp đằm thắm, kín đáo và đáng yêu hơn. Sự “hoá thân” ấy phải trải qua những chặng đường không đơn giản, ngược lại, có phần nhọc nhằn, gian truân. Cho nên, cái quãng thượng nguồn hoang dại kia, dòng sông muốn khép lại, giấu kín. Chi tiết sông Hương sau khi khoá cánh cửa bịt lối ngược thượng nguồn để giấu đi lai lịch man dại của mình, đã vứt chiếc chìa khoá dưới vực Kim Luông, gợi ta nghĩ tới một người con gái muốn giấu biệt một đoạn đời phóng túng để xuất hiện trước mắt mọi người trong tư cách "con nhà lành" dịu dàng, đoan chính. Nét bí ẩn ẩy của dòng sông, vì thế, càng thách thức sự khám phá của con người.

-   Do điều kiện địa hình tự nhiên, mỗi con sông là một dòng chảy riêng, vạch ra giữa trời đất một đồ hình không lặp lại. Dưới ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường, hành trình của dòng sông Hương vô cùng biến hoá, bất ngờ. Nó “chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm”, rồi lại “chuyển hướng sang tây bắc”, “đột ngột vẽ một hình cung thật tròn về phía đông bắc”, “kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam - đông bắc”, lại “uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến”... Những bước đi "dích dắc" ấy như có chủ đích, có tính toán, chẳng khác gì hành trình của một người con gái chủ động trong tình yêu, băng vượt qua mọi thách thức, theo tiếng gọi của trái tim, đến với người tình mong đợi. Bước chân ấy không vội vã, hấp tấp mà kiên trì, dứt khoát. Tình cảm say đắm, nồng nàn khiến sông Hương khi phải xa kinh thành, “như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối”, như người con gái quay lại trao nụ hôn giã biệt người yêu. Ta biết rằng, "lai lịch", "hành trạng" của sông Hương hoàn toàn có thể giải thích được về mặt khoa học, nhưng dưới cái nhìn đậm chất phong tình của tác giả, dòng sông ấy dần dần hiện lên với vẻ đẹp của một thiếu nữ dịu dàng mà không kém phần mãnh liệt, thậm chí có thêm chút “lẳng lơ kín đáo”. Thật thú vị khi tác giả liên tưởng đến bước chân của nàng Kiều trong đêm tình tự, để thấy mỗi hướng chảy, mỗi khúc ngoặt của dòng sông chẳng phải vô tình. Ai cũng biết sông Hương với thành phố Huế gắn bó với nhau như một cặp tình nhân chung thuỷ, nhưng lí giải sự gắn bó ấy theo cách của Hoàng Phủ Ngọc Tường quả là khác lạ. Bằng cách lí giải rất tinh tế ấy, tác giả giúp ta hiểu thêm vẻ đẹp trữ tình có một không hai của dòng sông.

-    Sông Hương điểm tô cho thành phố Huế thêm phần mộng ảo, nhưng cũng chính thành phố đã làm cho dòng sông Hương mang một vẻ đẹp dịu dàng, trầm mặc, hiếm thấy ở những dòng sông khác trên đất nước ta. Hành trình về với người tình mong đợi của dòng sông Hương qua những điện Hòn Chén, bãi Nguyệt Biều, Lương Quán, núi Ngọc Trản, đồi Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo, những cồn Giã Viên, những thôn Vĩ Dạ nổi tiếng. Các địa danh mà sông Hương uốn mình chảy qua ấy, chỉ đọc lên thôi đã khiến ta nghĩ ngay tới kinh đô Huế cổ kính, nên thơ, với những núi đồi, lăng tẩm, đền đài, thành quách, xóm làng trù phú. Và sắc màu ở đây cũng thật đặc biệt: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím. “Giữa đám quần sơn lô xô ấy, là giấc ngủ nghìn năm của những vua chúa được phong kín trong lòng những rừng thông u tịch và niềm kiêu hãnh âm u của những lăng tẩm đồ sộ toả lan khắp cả một vùng thượng lưu”, vẻ đẹp u trầm ấy được tác giả ví như “triết lí”, như “cổ thi”, nghĩa là những giá trị tinh thần đã ngưng kết từ ngàn năm, còn ẩn hiện thấp thoáng trong mỗi một sự vật được bảo tồn cho đến hôm nay. Một loạt từ Hán Việt xuất hiện trong bài kí như: “quần sơn”, "u tịch”, “trầm mặc”, “cổ thi”, "quan hoài vạn cổ”... khiến cho mỗi sự vật thêm đậm màu cổ kính. Và câu ca dao xứ Huế mà tác giả dẫn ra ở đây đúng là một câu cổ thi: “Bốn bề núi phủ mây phong - Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng Vạn Niên”. Không phải ngẫu nhiên mà trong bài kí này, nhiều câu thơ viết về sông Hương bỗng sống dậy trong tâm trí tác giả. “Dòng sông trắng - lá cây xanh” trong cái nhìn tinh tế của Tản Đà, từ tha thướt mơ màng nó chọt nhiên hùng tráng lên “như kiếm dựng trời xanh” trong khí phách của Cao Bá Quát; từ nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bảng lảng trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan, nó đột khởi thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu”. Một lần nữa, tác giả cảm thấy có mối tơ vương, dan díu giữa sông Hương với những câu Kiều của Nguyễn Du: “sông Hương quả thực là Kiều, rất Kiều, trong cái nhìn thắm thiết tình người của tác giả Từ ấy”. Những liên tưởng bất chợt mà rất hữu lí, cùng sự xuất hiện của những câu thơ trong các đoạn văn của bài bút kí đã góp phần thể hiện rõ hơn cái hồn, cái chất thơ của sông nước nơi đây.

 

-   Một dòng sông như thế thì nhất định dòng chảy phải êm đềm, lặng lẽ. Nhịp điệu ấy từng gây cho hồn thơ Hàn Mặc Tử cái cảm giác “buồn thiu”. Nhưng ở đây, ngay cả khi sông Hương trôi giữa lòng thành phố Huế chậm đến mức chỉ còn như một mặt hồ yên tĩnh, Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn nhìn ra vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của nó. Liên tưởng đến dòng chảy băng băng của sông Nê-va tận nước Nga xa xôi - nhanh đến mức du khách trên bờ không kịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những con hải âu co chân đứng trên mỗi tảng băng như một con thuyền riêng của chúng, liên tưởng đến câu nói bất hủ của một triết gia Hi Lạp về sự chảy trôi, biến ảo của dòng sông - nhân thế xưa nay, tác giả thêm quý điệu chảy lặng lờ của sông Hương khi qua thành phố. ông đã lắng hồn mình thật sâu để thấu nhập vào vẻ đẹp của nhịp điệu sông nước nơi đây, và ngợi ca nó bằng câu văn như cấu tạo bằng chính cái nhịp điệu ấy: “Đấy là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế, có thể cảm nhận được bằng thị giác qua trăm nghìn ánh hoa đăng bồng bềnh vào những đêm hội rằm tháng Bảy từ điện Hòn Chén trôi về, qua Huế bỗng ngập ngừng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng”. Phải là dòng chảy nhẹ êm, lững lờ như thế, sông Hương mói có thể giống như một “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”, mới có thể trở thành nơi sản sinh toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế. Bằng một ước đoán thú vị mà có cơ sở, tác giả cho rằng, chính cái nhịp điệu của sông nước Hương giang đã ấp ủ hồn thơ Nguyễn Du để thi nhân viết nên những bản đàn đi suốt đời Kiều. Như vậy, trong con mắt Hoàng Phủ Ngọc Tường, sông Hương không chỉ là một dòng sông thơ mà còn là một dòng sông nhạc. Cả thơ, nhạc ấy đều được cảm nhận bằng một tâm hồn "thiên vị" phái đẹp, bởi mỗi hình ảnh liên tưởng, mỗi chi tiết liên văn bản, mỗi nhịp điệu, tiết tấu của lời văn đều toát lên cái "âm tính - nữ tính" hết sức rõ ràng.

Nguồn: Bộ Giáo Dục & Đào Tạo