Làm sao nhận biết bệnh gì qua dấu hiệu đau ngực

Thứ sáu , 01/05/2015, 18:07 GMT+7
     
Đau ngực là một triệu chứng thường thấy trên lâm sàng. Các bệnh tật nội tạng, ngoại thương gãy xương, các chứng viêm nhiễm và kích thích của các nhân tố vật lý, hóa học... đều có thể gây ra đau ngực. Nếu cơn đau xuất phát từ một vùng tổn thương nhẹ thì không quan trọng lắm nhưng nếu do bệnh tật ở nội tạng gây ra thì không được xem thường. Nếu không kịp thời chẩn đoán xử lý, có lúc sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Nguyên nhân gây ra đau ngực có rất nhiều. Nhưng nếu chú ý đến vị trí đau ngực, thời gian bị đau, tính chất của cơn đau và các triệu chứng kèm theo thì có thể phán đoán được cơn đau ngực do bệnh nào gây ra. Phương pháp như sau:

1.   Quan sávị trí đau ngực

-     Tim đau thắt thường xuất hiện ở sau xương ức hoặc khu trước tỉm và thường lan tỏa đến vai trái và mặt trong cánh tay trái.

-     Đau do bệnh về thực quản, bệnh thoát vị cơ hoành, khối u mảng liên kết phủ tạng thường nằm ở sau xương ức.

-     Tự phát sinh bực bội, viêm màng phổi cấp tính, phổi tắc nghẽn... có biểu hiện là đau dữ dội một bên ngực.

-     Vị trí đau thần kinh giữa các xương sườn thì phân bố theo xương sườn.

-     Đau cơ dạng tiến hành, cơ thịt ở ngực, bụng đau dữ dội. Có thểlan tỏa đến vùng vai, cổ.

-     Đau ngực do ngoại thương gây ra thường nằm ở vị trí ngoại thương.

-     Khi bệnh biến của bệnh vùng phổi ảnh hưởng đến màng phổi tạng tầng có thể gây ra đau đớn, cơn đau thường nằm ở gần bộ phận có bệnh.

-     Chứng viêm da vách ngực thì xuất hiện đỏ, sưng, nóng, đau ởbên bị bệnh.

-     Trên đa ngực xuất hiện nhiều mụn nước nhỏ, phân bố theo thần kinh sườn nhưng không vượt qua đường trung tuyến lại có cảm giác đau rõ rệt, có thể là chứng mụn nước mẩn thành mảng.

2.   Quan sát thời gian phát sinh cơn đau ngực

Viêm thực quản, sa sút thực quản, thực quản co giật, ung thư thực quản... gây ra đau ngực thường phát tác khi nhai nuốt hoặc làm cơn đau nặng hơn.

Đau thần kinh sườn hoặc đau do viêm màng não thường nặng hơn khi hô hấp hoặc ho

Tim đau thắt hoặc hoại tử cơ tim thường phát tác vào buổi tối sau khi lao động mệt mỏi.

3.   Quan sát tính cht của cơn đau

Đau thần kinh sườn có dạng đau như kim châm hoặc như dao cắt. Đau cơ thường có dạng đau mỏi. Đau xương thường có dạng đau mỏi hoặc đau như bị khoan.

Cơn đau do viêm thực quản cấp tính có dạng đau như phải bỏng.

Tim đau thắt có dạng đau ép chặt và thường cảm giác như có vật nặng đè lên vùng tim khiến không khí không lọt qua được.

Ung thưdi căn đến xương sườn thì xuất hiện cơn đau dữ dội không thể chịu đựng được và cảm giác ấn đau cục bộ.

Bệnh máu trắng, đặc biệt là khi mắc bệnh máu trắng cấp tính, ấn thấy đau ở xương ức trở thành một trong những thể chứng quan trọng. Theo quan sát lâm sàng, bộ phận ấn đau xương ức rõ ràng nhất ở đa sô bệnh nhân là ở phần dưới xương ức tức tương đương với xương ức ở giữa xương sườn thứ tư và thứ năm. Vì vậy nếu phát hiện thấy xương ức của mình có cảm giác ấn đau mà không do ngoại thương gây ra thì nên đến ngay bệnh viện để kiếm tra, tuyệt đối không coi thường.

4.   Quan sát triệu chứng kèm theo khi đau ngực

-     Đau ngực kèm theo sốt và có thể chứng tương ứng ở vùng ngực, có thể thấy ở người bị viêm phổi dạng lá to, viêm màng não dạng lao, ứ mủ lồng ngực...

-     Đau ngực kèm theo ho, khạc đờm, ho ra máu, có thể thấy ở người bị lao phổi, giãn nhánh khí quản và ung thư nhánh khí quản...

-     Đau ngực kèm theo việc đau nhai nuốt khó khăn, tiều tụy, có thể thấy ở người bị ung thư thực quản.

-     Đau ngực kèm theo hô hấp khó khăn và bị bầm tím có thể thấy ở người bị tức ngực khó thở.

-     Đau ngực (đau mạnh ở vùng trước tim) kèm theo hạ huyết áp, mặt tái nhợt, vã mồ hôi lạnh, tứ chi lạnh ngắt..., có thể thấy ở người bị hoại tử cơ tim,

-     Đau ngực (đau vùng trước tim) kèm theo sốt, ra mồ hôi lạnh và mệt mỏi, hô hấp khó khăn, ho, có thể thấy ở người bị viêm màng bọc tim.

-     Đau ngực kèm theo buồn bực, tim đập mạnh và loạn nhịp, cùng lúc hoặc trước lúc đó xuất hiện sốt, cơ thể khó chịu, nuốt đau, ỉa chảy... có thể thấy ở người bị viêm cơtim cấp tính.

Nguồn: Ông Văn Tùng
Dau hieu benh dau nguc nhan biet benh tu dau nguc