Phân tích bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy

Chủ nhật , 29/03/2015, 09:08 GMT+7
     
Giọng thơ như lời kể, câu này tiếp ý của câu kia, bài thơ vừa là thơ lại như lời tự sự, lời tâm tình. Cảm xúc trong thơ thật chân thành mà mãnh liệt. Lời phát ra cũng là lời nội tâm. Bài thơ nói hộ tiếng lòng của nhiều người có lẽ cũng từ những nét nghệ thuật này.

Thuỷ chung, trọn vẹn nghĩa tình là nét đẹp truyền thống của dân tộc ta. Ngay từ thuở xa xưa, cha ông ta đã từng có nhiều câu ca dao ca ngợi lòng chung thủy của con người:

“Cây đa cũ, bến đò xưa

Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ”.

Chính vì ý thức ấy mà có những lúc con người phải giật mình nhìn lại mình trong niềm ân hận vì đã có lúc mình chợt lãng quên. Bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy nằm trong cảm hứng sáng tác ấy:

Hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với bể

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỉ.

 

Trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa.

 

Từ hồi về thành phố

quen ánh điện, cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường.

 

Thình lình đèn điện tắt

phòng buyn đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăìig tròn.

 

Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng, là bể

như là sông, là rừng.

 

Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phác

đủ cho ta giật mình.

Một quá khứ thật sống động, hồn nhiên được thể hiện qua hai khổthơ đầu hay chính là nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ: “sống với đồng, với sông, với bể” từ lúc còn ấu thơ, sông “ở rừng” ngày chinh chiến. Không gian sống mở ra thật rộng lớn đến ngút ngàn. Ta tưởng tượng như không có gì ngăn cản được tầm mắt của con người. Không gian ấy trải ra để ánh trăng tỏa sáng, lung linh, không toan tính. Ánh trăng ấy luôn hiện về mỗi kì như người bạn thân thiết. Tác giả dùng từ “tri kỉ’ để nói về trăng ngày đã qua ấy, không những chỉ là “vầng trăng tri kỉ” mà còn là “vầng trăng tình nghĩa”, để con người “ngỡ không bao giờ quên”.

Khổ thơ thứ ba giới thiệu về một hoàn cảnh sống khác, hoàn cảnh này có phần đôi lập với cảnh cũ, người xưa:

“Từ hồi về thành phố

quen ánh điện, cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường”.

“Ánh điện, cửa gương” cũng là những thứ ánh sáng hoặc phản chiếu ánh sáng, nhưng là biểu hiện của cuộc sống chốn phồn hoa đô hội. Tác giả đang về một nét tâm lí của con người: quen với cái sướng, dễ lãng quên một thời cực khổ. Lạnh lùng làm sao khi “vầng trăng đi qua ngõ, như người dưng qua đường”. Rất thực mà nghe tàn nhẫn đến cùng cực. Dẫu biết trăng không là người, mà sao cứ thấy sự nhẫn tâm ấy thật lớn.

Đến đây, bỗng nhiên mạch thơ vút lên trong sự bất ngờ. Thanh bằng cuối ba câu thơtrước đột ngột được thay bằng thanh trắc ở câu thơ đầu khổ thơ thứ tư: “thình lình đèn điện tắt”.

Phải, chính cái “thình lình” ấy đã tạo nên tình huống thơ: cái ánh điện, cửa gương kia trở nên quen thuộc quá, và giờ đây “phòng buyn đinh tối om” gợi cảm giác khó chịu. Phản xạ của con người lúc này là “vội bật tung cửa sổ” để tránh đi cái tối om, ngột ngạt trong phòng buyn đinh mất điện. Và rồi kia, bất ngờ, bình thường mà lại không bình thường chút nào, ngỡ ngàng làm sao khi:

“vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn”.

Cảm xúc của con người lúc này thật khó tả. Kĩ niệm ùa về không có gì cản nổi. Bất giác:

“ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng, là bể

như là sông, là rừng”.

Cái “rưng rưng” của cảm xúc “nhớ” được thăng hoa. Nhìn trăng lúc này mà tưởng như đang thấy trăng của quá khứ, cái thuở sống với đồng, với bể, với sông, với rừng. Cảm xúc nhớ thương dâng lên trong thổn thức - Cái thổn thức thường có khi ta chạnh nhớ về những kỉ niệm thật đẹp đã trôi qua. Để rồi, nhìn ánh trăng mà ngẫm:

“trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình”

Lời nói, lời tự sự thành thơ nghe như lời của tâm hồn. “Trăng tròn vành vạnh” lúc này đang đối lập với “người vô tình”, như cái vẹn nguyên đang đối lập với cái đổi thay.

“Ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình”.

Hình tượng “trăng tròn”, rồi “trăng im phăng phắc” mang tầm triết lí: trăng như một chứng nhân, như là quá khứ đang nghiêm khắc nhìn con người thay đổi. Không một lời, không trách cứ, thật bao dung mà thật đáng sợ. Chính sự im lặng ấy là cái “im lặng lên tiếng”, để lương tâm con người cắn rứt khôn nguôi. “Ánh trăng im phăng phắc, đủ cho ta giật mình”. Cái “giật mình” ngẫm nghĩ, cái giật mình tự thú. Ta bỗng nhớ đến sự im lặng của người thợ cắt tóc trong truyện ngắn “Bức tranh” của Nguyễn Minh Châu. Cũng không một lời, vậy mà anh cứ làm người họa sĩ day dứt mãi.

Nếu cái “giật mình” trong “Sông lấp” của Tú Xương: “Vẳng nghe tiếng ếch bên tai, giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò” là cái giật mình nhớ thương, tiếc nuối một quá khứ đẹp, thì “giật mình” trong “Ánh trăng” của Nguyễn Duy: “ánh trăng im phăng phắc, đủ cho ta giật mình” lại là cái “giật mình” của nỗi ân hận, giật mình vì cảm giác mình đang phản bội, đang quay lưng với quá khứ. Cái giật mình ở bài thơ này thực sự giật mình của lương tâm.

Giọng thơ như lời kể, câu này tiếp ý của câu kia, bài thơ vừa là thơ lại như lời tự sự, lời tâm tình. Cảm xúc trong thơ thật chân thành mà mãnh liệt. Lời phát ra cũng là lời nội tâm. Bài thơ nói hộ tiếng lòng của nhiều người có lẽ cũng từ những nét nghệ thuật này.

Cái “ánh trăng” nghiêm khắc, bao dung ấy còn sáng mãi, để nhắc nhỡ con người cần biết sống có trước có sau, có tình có nghĩa. Đó cũng chính là bài học mà tác phẩm để lại cho chúng ta.

Nguồn: Nhungbaivanhay.net
Bai tho anh trang bai tho anh trang nguyen duy phan tich bai tho anh trang