Phân tích những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975.

Thứ sáu , 08/05/2015, 08:34 GMT+7
     
Là cảm hứng tràn đầy mơ ước, hướng tới tương lai “Trán cháy rực nghĩ trời đất mới - Lòng ta bát ngát ánh bình minh” (Nguyễn Đình Thi) hoặc “Từ trong đổ nát hôm nay - Ngày mai đã đến từng giây từng giờ” (Tố Hữu); Chị Sứ (Hòn đất - Anh Đức); Nguyệt (Mánh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu).

Có 3 đặc điểm cơ bản:

a)   Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước

Đặc điểm này thể hiện trên các khía cạnh sau:

-     Đề tài phản ánh là hiện thực cách mạng sôi nổi trong hai cuộc kháng chiến và lao động dựng xây.

-     Nội dung tư tưởng là lí tưởng cách mạng mà Đảng và Bác soi đường.

-     Hai đề tài mà văn học tập trung thể hiện là Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.

-     Hình tượng chính được thể hiện trong từng đề tài là người chiến sĩ trên mặt trận vũ trang, những lực lượng khác của dân quân, du kích, thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến, giao liên...; là cuộc sống mới, con người mới, mối quan hệ giữa những người lao động.

b)  Nền văn học hướng về đại chúng

Đặc điểm này thể hiện trên các khía cạnh:

-     Nhà văn gắn bó với nhân dân lao động - những con người bình thường đang “làm ra đất nước” (khác với văn học trước 1945).

-     Để có được thái độ ấy, đầu tiên nhà văn phải có nhận thức, nhãn quan đúng về nhân dân, có tình cảm tốt đẹp với nhân dân, nhận ra công lao to lớn của họ trong lao động sản xuất và sự nghiệp giải phóng dân tộc (Đôi mắt của Nam Cao, Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, đến câu nói tâm nguyện của Xuân Diệu: “Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi - Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu”...).

-     Nền văn học mang tính nhân dân sâu sắc. Điều đó biểu hiện trong tính văn học như:

+ Lực lượng sáng tác bổ sung những cây bút từ trong nhân dân.

+ Nội dung sáng tác: phản ánh đời sống nhân dân, tâm tư, khát vọng, nỗi bất hạnh của họ trong xã hội cũ, phát hiện khả năng và phẩm chất của người lao động, tập trung xây dựng hình tượng quần chúng cách mạng.

+ Nghệ thuật giản dị, dễ hiểu, ngắn gọn, tìm đến những hình thức nghệ thuật quen thuộc với nhân dân, phát huy thể thơ dân tộc.

c)   Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

-     Khuynh hướng sử thi:

Khuynh hướng sử thi là khuynh hướng vươn tới những cái lớn lao, phi thường qua những hình ảnh tráng lệ:

+ Đề cập tới số phận chung của cả cộng đồng, liên quan đến giai cấp, đồng bào, Tổ quốc và thời đại.

+ Nhận vật chính thường tiêu biểu cho lí tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận đất nước, kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cộng đồng.

+ Cái đẹp ở mỗi cá nhân là ở ý thức công dân, lẽ sống lớn và tình cảm lớn. Nếu nói đến cái riêng thì cũng phải hoà vào cái chung.

Anh yêu em như yêu đất nước

Vất vả đau thương, tươi thắm vô ngần

                                                            (Nguyễn Đình Thi)

+ Lời văn mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng và đẹp một cách tráng lệ:

Ôi Việt Nam từ trong biển máu

Người vươn lên như một thiên thần

                                                (Tố Hữu)

+ Người cầm bút nhìn cuộc đời bằng “Con mắt Bạch Đằng - Con mắt Đống Đa”.

+ Nhân vật thường đại diện cho tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của toàn dân tộc, có tính cách và tình cảm phi thường “Còn một giọt máu tươi còn đập mãi” (Người congái Việt Nam - Tố Hữu).

+ Một số tác phẩm mang đậm không khí núi rừng “Suốt đêm nghe cả rừng Xô Man ào ào rung động. Và lửa cháy khắp rừng” (Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành).

-     Cảm hứng lãng mạn:

+ Là cảm hứng tràn đầy mơ ước, hướng tới tương lai “Trán cháy rực nghĩ trời đất mới - Lòng ta bát ngát ánh bình minh” (Nguyễn Đình Thi) hoặc “Từ trong đổ nát hôm nay - Ngày mai đã đến từng giây từng giờ” (Tố Hữu); Chị Sứ (Hòn đất - Anh Đức); Nguyệt (Mánh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu).

+ Là khẳng định lí tưởng của cuộc sống mới, vẻ đẹp con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Nguồn: Nhungbaivanhay.net
Phan tich van hoc viet nam 1945 - 1975